Home / Uncategorized / Phân Biệt Hai Dịch Vụ Cầm Cố Và Cầm Đồ Tài Sản

Phân Biệt Hai Dịch Vụ Cầm Cố Và Cầm Đồ Tài Sản

Rate this post

Cầm cố và cầm đồ vẫn luôn là những sản phẩm vay vốn nhận được nhiều sự quan tâm của khách hàng mỗi khi có nhu cầu vay tiền nóng, vay vốn gấp trong ngày. Nhưng rất nhiều người vẫn không hiểu rõ về hai hình thức này cũng như phân biệt hai dịch vụ cầm cố và cầm đồ có khác gì nhau không? Hãy đọc bài viết sau đây để có cái nhìn tổng quan nhất nhé.

Khái niệm Cầm cố và cầm đồ

cam co va cam do
So sánh cầm cố và cầm đồ

“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.” – Theo điều 326 BLDS 2005.

– Cầm đồ là hình thức cho vay tiền đòi hỏi người vay phải có tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình ghi trong hợp đồng cầm đồ. Người vay tiền có tài sản cầm cố gọi là bên cầm đồ; người cho vay tiền nhận tài sản cầm cố gọi là bên nhận cầm đồ.

Phân biệt cầm cố và cầm đồ

Điểm giống nhau

  • Nghĩa vụ của bên cầm cố, bên cầm đồ

– Phải giao tài sản cầm cố, cầm đồ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

  • Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố, nhận cầm đồ

– Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố và cầm đồ

– Không được bán, trao đổi, tặng, cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố và cầm đồ; không được đem tài sản đó để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ khác.

– Phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố, bên cầm đồ nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố và cầm đồ.

  • Quyền của các bên chủ thể cầm cố và cầm đồ là quyền đối nhân

– Quyền của bên này được thực hiện thông qua hành vi của chủ thể phía bên kia. Người mang quyền không tác động trực tiếp đến tài sản của người mang nghĩa vụ. Khi người mang nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đó, người mang quyền được sử dụng các phương thức mà pháp luật cho phép để tác động và yêu cầu người đó thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

Điểm khác nhau

a) Bản chất

Cầm cố là một trong 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nên cầm cố vừa mang những đặc điểm chung của biện pháp bảo đảm như: mang tính chất dự phòng, chỉ áp dụng khi nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhằm bổ sung cho nghĩa vụ chính, được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên.

Còn về cầm đồ, cầm đồ có bản chất là một hợp đồng vay có lãi và có áp dụng biện pháp bảo đảm là cầm cố. Như đã trình bày ở phần khái niệm: “Cầm đồ là hình thức cho vay tiền đòi hỏi người vay phải có tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình ghi trong hợp đồng cầm đồ. Người vay tiền có tài sản cầm cố gọi là bên cầm đồ; người cho vay tiền nhận tài sản cầm cố gọi là bên nhận cầm đồ.” (theo điểm 1, mục I Thông tư Liên bộ của Ngân hàng Nhà nước – Thương mại số 02/1995 hướng dẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ).

b) Chủ thế

Pháp luật dân sự không có quy định cụ thể về chủ thể của cầm cố tài sản, ta chỉ hiểu như sau:

Phân biệt cầm cố và cầm đồ

– Bên cầm cố tài sản: Bên cầm cố tài sản là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình giao cho bên nhận cầm cố nắm giữ để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc người khác. Bên cầm cố tài sản có thể là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố tài sản, có thể là người thứ ba.

– Bên nhận cầm cố: Bên nhận cầm cố bao giờ cũng là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.

Còn đối với chủ thể của cầm đồ tài sản, phải là cá nhân gồm công dân Việt Nam hoặc công dân người nước ngoài từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự, cư trú hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của luật pháp Việt Nam. Không phải mọi cá nhân, pháp nhân đều có thể là bên nhận cầm đồ mà bên nhận cầm đồ phải đáp ứng các điều kiện cụ thể theo quy định pháp luật như sau: phải là doanh nghiệp được thành lập theo luật định, được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ cầm đồ.

c) Đối tượng

Tài sản là đối tượng của cầm cố có thể là động sản hoặc bất động sản tuy nhiên tài sản là đối tượng của cầm đồ phải là động sản mà không thể là bất động sản. Điểm 3, mục I Thông tư của Bộ Thương mại số 13/1999 hướng dẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ có quy định:

3.1- Hàng hoá, tài sản được sử dụng để cầm đồ:

– Phải là động sản, có giá trị mua bán, trao đổi thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng.

– Nếu hàng hoá, tài sản thuộc sở hữu của người thứ ba, phải có giấy ủy quyền hợp pháp của người này cho khách hàng.

– Nếu hàng hoá, tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người, phải có giấy uỷ quyền hợp pháp của các đồng sở hữu cho khách hàng.

3.2- Hàng hoá, tài sản không được sử dụng để cầm đồ:

– Hàng hoá, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.

– Bất động sản và các giấy tờ liên quan đến bất động sản.

– Hàng hoá thuộc diện pháp luật cấm kinh doanh, cấm lưu hành hoặc cấm sử dụng.

– Hàng hoá, tài sản đang só sự tranh chấp quyền sở hữu.

– Hàng hoá, tài sản đang bị tạm giữ, niêm phong, phong toả theo các quy định của pháp luật.

– Hàng hoá, tài sản đang được thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho nơi khác.”

d) Xử lý tài sản

Theo quy định của pháp luật, việc xử lý tài sản cầm cố được thực hiện theo phương thức thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo phương thức bán đấu giá tài sản; khác với việc xử lý tài sản cầm đồ được tiến hành theo phương thức phát mại tài sản nhằm mục đích thu hồi vốn. Cụ thể như sau:

* Cầm cố tài sản:

Khi đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố tài sản không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố.

Phương thức xử lý tài sản cầm cố do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp các bên chưa thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản thì tài sản cầm cố được bán đấu giá. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, chi phí cho việc bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố được dùng để thanh toán cho bên nhận cầm cố.

* Cầm đồ tài sản:

Căn cứ theo điểm 4, mục II Thông tư Liên bộ của Ngân hàng Nhà nước – Thương mại số 02/1995 hướng dẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ, việc xử lý tài sản được thực hiện như sau:

– Bên nhận cầm đồ được quyền phát mại tài sản cầm cố để thu hồi vốn trong các trường hợp sau:

+ Hết thời hạn trả nợ hoặc hết thời hạn gia hạn nợ mà bên cầm đồ không có khả năng thanh toán.

+ Theo đề nghị bằng văn bản của bên cầm đồ khi chưa đến hạn trả nợ.

+ Bên cầm đồ là cá nhân bị chết hoặc mất tích mà không có người thừa kế hoặc người được quyền thừa kế không nhận thừa kế.

+ Các pháp nhân có tài sản cầm cố bị giải thể mà không có khả năng trả nợ.

– Việc phát mại tài sản cầm cố được thực hiện theo phương thức đấu giá công khai và theo đúng quy định của pháp luật.

– Tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố được xử lý theo thứ tự sau:

+Bù đắp các khoản chi phí tổ chức phát mại tài sản cầm cố.

+Trả nợ tiền cầm đồ (gốc và lãi kể cả lãi phạt).

+Phần còn lại trả cho người có tài sản cầm cố; trường hợp không có người nhận số tiền còn lại thì bên nhận cầm đồ phải hạch toán theo dõi riêng chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

+Trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố không đủ thanh toán tiền nợ (gồm gốc và lãi kể cả lãi phạt) thì bên nhận cầm đồ yêu cầu bên cầm đồ phải hoàn trả phần còn thiếu hoặc được khởi kiện trước pháp luật.

About admin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *